Trà làm nên cách mạng công nghiệp

Năm 1767, Richard Arkwright, một nhà phát minh người Anh bắt đầu nghiên cứu khung xe chỉ tự động, đến năm 1768 xưởng xe chỉ chạy bằng sức ngựa đầu tiên ra đời. Hai thương gia giàu có rất ấn tượng với phát minh này của Arkwright và quyết định cấp vốn cho ông xây một nhà máy chạy bằng cối xay nước ở Cromford, Derbyshire. Thành công này tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành dệt, và là bước mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19.

Khác với cách làm thủ công trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp thay đổi cách làm việc của công nhân, mỗi công nhân chỉ chuyên làm một khâu trong dây chuyền hay vì làm toàn bộ quá trình. Sự chuyên nghiệp hóa dẫn đến năng suất lao động tăng lên hàng chục lần, nhưng cũng đòi hỏi sự tập trung cao độ. Trà chính là giải pháp tốt nhất. Trà giúp công nhân tỉnh táo và chống lại cơn đói trong ca làm việc dài. Chất tannin có trong trà có tác dụng diệt khuẩn, cộng với việc dùng nước đun sôi để pha trà khiến cho thứ đồ uống này vệ sinh hơn hẳn nước lã, và góp phần giảm số ca mắc bệnh lây qua đường nước. Trà du nhập vào Anh từ giữa thế kỉ 17, trở nên phổ biến từ giữa thế kỉ 18, cũng từ đó tỉ lệ người mắc bệnh lị ở Anh bắt đầu giảm và đến cuối thế kỉ 18 đã gần như biến mất. Sức khỏe của người Anh tăng lên rõ rệt, và các công nhân có thể tập trung ở đông hơn tại các khu nhà xung quanh nhà máy mà không lo dịch bệnh. Tỉ lệ trẻ sơ sinh chết sớm cũng giảm mạnh nhờ chất chống khuẩn từ trà có trong sữa mẹ. Nhờ đó, nước Anh có được một nguồn nhân lực khỏe mạnh đúng lúc cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra.

Trà tạo nên cuộc cách mạng tiêu dùng

Sự phổ biến của trà kích thích các ngành thương mại và dịch vụ khác ở Anh. Năm 1717, Thomas Twining, một chủ cửa hàng cà phê ở London đã mở thêm một cửa hàng ngay bên cạnh cửa hàng cũ, và chỉ chuyên bán trà cho đối tượng khách hàng chính là phụ nữ. Khi đó, các quán cà phê và quán rượu chỉ dành riêng cho các quý ông, trà vẫn còn khá đắt và các quý bà không tin tưởng giao một số tiền lớn cho gia nhân đi mua trà. Đến quán Twining, các quý bà có thể thưởng thức một tách trà tại chỗ và mua trà khô về. Họ cũng có thể đặt những loại trà được pha chế đặc biệt với những mùi vị theo yêu cầu. Các kiến thức về trà, nghi lễ uống trà, và những bộ đồ uống trà bằng sứ cao cấp là cách mà giới thượng lưu thể hiện sự sành điệu. Đến giữa thế kỉ 18, khi trà trở nên phổ biến, mỗi gia đình dù giàu hay nghèo đều phải có một bộ đồ trà, góp phần vào sự phát triển rực rỡ của ngành gốm sứ nước Anh và loại bỏ hoàn toàn việc nhập khẩu sứ từ Trung Quốc từ năm 1791.

Người thợ gốm sứ nổi tiếng nhất vùng Staffordshire là Josiah Wedgwood, người đi tiên phong trong việc sản xuất hàng loạt và đóng tem sản phẩm. Ông có lẽ cũng là người đầu tiên trên thế giới sử dụng hình ảnh người nổi tiếng để quảng cáo cho sản phẩm của mình. Khi nữ hoàng Charlotte, vợ vua George III, đặt hàng một bộ đồ trà, ông đã xin phép nữ hoàng cho mình được bán sản phẩm tương tự cho công chúng dưới cái tên Queen’s ware (đồ của nữ hoàng). Ông quảng cáo sản phẩm trên báo và mở các cuộc triển lãm đặc biệt chỉ dành cho khách mời, một trong số đó là cuộc triển lãm cho Nữ hoàng Catherine II của Nga.

Còn Richard Twining, con trai của Thomas Twining, là người đầu tiên sử dụng logo thương mại trên thế giới. Năm 1787, ông đặt một biển hiệu thiết kế đặc biệt trên cửa ra vào của quán trà, đồng thời dùng chính thiết kế này cho nhãn trà của mình. Chiến thuật marketing này đã đem lại thành công cho thương hiệu trà Twining, ngày nay Twining vẫn là một nhãn hiệu trà rất nổi tiếng của Anh.

Những cách thức xây dựng thương hiệu trà và các sản phẩm liên quan đến trà dựa trên yêu cầu và tập tính của người tiêu dùng đã đặt nền móng cho chủ nghĩa trọng tiêu dùng (consumerism), và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế trên toàn thế giới sau này.

Trà giải phóng nước Mỹ khỏi ách thuộc địa

Những năm đầu thập kỉ 1770s là đỉnh cao của việc buôn lậu trà vào Anh và Mỹ. Trà lậu rẻ hơn trà nhập khẩu chính thức vì không phải đóng thuế, và khiến cho công ty British East India Company của Anh bị tồn kho hàng nghìn tấn. Không những thế, công ty này vẫn phải đóng thuế nhập khẩu dù có bán được trà hay không. Giải pháp duy nhất là nhờ sự can thiệp của chính phủ. Thời điểm này British East India Company là một thế lực chính trị lớn ở Anh. Doanh số của công ty còn cao hơn của chính phủ, riêng thuế nhập khẩu trà công ty này phải nộp đã chiếm 10% nguồn thu của chính phủ Anh. Chính vì thế công ty có ảnh hưởng rất lớn tới bộ máy cầm quyền.

Năm 1773, chính phủ Anh ra pháp lệnh về trà (Tea Act). Theo đó, chính phủ sẽ cho British East India Company vay 1.4 triệu bảng Anh để trả nợ, và công ty được quyền vận chuyển trà trực tiếp từ Trung Quốc sang Mỹ, nhờ đó tránh được thuế nhập khẩu vào Anh. Công ty này sẽ chỉ phải trả khoản thuế nhập khẩu rẻ mạt vào Mỹ, và được độc quyền phân phối trà tại xứ thuộc địa. Thuế nhập khẩu rẻ hơn cũng khiến cho trà nhập có giá thậm chí thấp hơn cả giá trà lậu, phá hoại việc làm ăn của dân buôn lậu. Công ty này lập luận rằng dân thuộc địa sẽ phải biết ơn chính sách này vì nhờ nó mà giá trà thấp đi.

Nhưng họ đã lầm. Dân thuộc địa, đặc biệt ở khu vực New England, kiếm sống nhờ việc buôn lậu, từ mía đường lậu để làm rượu rum đến buôn trà lậu từ Hà Lan. Họ tẩy chay hàng hóa của Anh, và không đời nào chịu đóng thuế cho chính phủ Anh. Họ căm thù việc British East India Company được độc quyền phân phối và bán lẻ trà ở Mỹ. Với họ, việc công ty này đặt được chân vào nước Mỹ sẽ dẫn tiếp đến những hành động chuyên chế, cướp bóc, đàn áp và đổ máu ở xứ thuộc địa. Nhiều thương nhân người Anh cũng cảm thấy chính phủ đã để British East India Company can thiệp quá sâu vào chính sách quốc gia để làm lợi cho chính công ty này.

Khi đạo luật này khi vào thực thi và những chuyến tàu đầu tiên của British East India Company mang trà đến Mỹ, dân thuộc địa đã tìm cách không để cho các tàu này dỡ hàng xuống. Ngày 16/12/1773, một nhóm người, bao gồm cả dân buôn lậu trà, ăn mặc như thổ dân Mohawk đã tấn công 3 tàu chở trà đang neo đậu ở cảng Boston. Chỉ trong 3 tiếng, 342 rương trà đã bị đổ xuống biển. Tháng 3 năm 1774, chính phủ Anh tuyên bố đóng cửa cảng Boston cho đến khi công ty British East India Company được bồi thường tổn thẩt. Một loạt các đạo luật khác được đưa ra năm 1774 nhằm lập lại trật tự ở Mỹ, nhưng chỉ làm cho dân thuộc địa thêm căm phẫn, và cuối cùng dẫn đến cuộc chiến cách mạng dành độc lập của Mỹ năm 1775.

Trà đẩy Hong Kong vào tay người Anh

Công ty The East India Company là nhà nhập khẩu trà chính từ châu Á sang Anh. Nhưng sự bành trướng của công ty này trong thế kỉ 18, sức ảnh hưởng tới chính phủ và nạn tham nhũng của các lãnh đạo công ty đã buộc quốc hội Anh bãi bỏ thế độc quyền của The East India Company trong trao đổi thương mại với châu Á, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, công ty này vẫn nắm giữ được thế thượng phong trong nhập khẩu trà nhờ một sản phẩm khác: thuốc phiện. Mặc dù buôn bán thuốc phiện đã bị cấm ở Trung Quốc từ năm 1729, nhờ những phương thức tinh vi, The East India Company đã cấu kết với chính phủ Anh tổ chức và mở rộng mạng lưới buôn bán thuốc phiện từ Ấn Độ sang Trung Quốc để đổi lấy bạc, và dùng bạc để mua trà từ Trung Quốc mang về Anh.

Năm 1838, hoàng đế Trung Quốc cử Lin Tze-su tới Quảng Đông để loại bỏ nạn buôn lậu thuốc phiện vĩnh viễn. Chỉ thị của Lin bị lờ đi, khiến ông nổi giận và cho đốt các kho thuốc phiện lậu. Điều này không làm chùn bước dân buôn thuốc phiện của cả Anh và Trung Quốc, họ tiếp tục buôn bán, và bị Lin bắt giam. Khi 2 thủy thủ Anh giết một người Trung Quốc nhưng chính phủ Anh không chịu giao nộp công dân của mình, Lin đã trục xuất toàn bộ người Anh ở Quảng Đông. Hành động này đã chọc giận chính phủ Anh, dẫn đến cuộc chiến tranh thuốc phiện từ năm 1839 đến năm 1892. Với sự vượt trội về công nghệ và vũ khí, nước Anh chiến thắng dễ dàng. Trung Quốc buộc phải kí hiệp ước giao Hong Kong cho Anh trong 100 năm, mở 5 cửa biển để thông thương hàng hóa, và bồi thường thiệt hại cho nước Anh bằng bạc trắng. Thất bại trước Anh quốc dẫn đến việc Trung Quốc phải mở cửa cho các thế lực ngoại bang khác, gồm Đức, Pháp, Nga, Mỹ và Nhật nhảy vào xâu xé. Cộng với sự thối nát của triều đại phong kiến Mãn Thanh, Trung Quốc dần sụp đổ, cuộc cách mạng năm 1911 nổ ra đã chính thức chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại lâu đời ở Trung Quốc.

Trà khởi đầu toàn cầu hóa

Không giống người Trung Quốc, người Anh không uống trà không mà cho thêm đường và sữa. Như đã nói ở trên, trà từ Trung Quốc đến Anh nhờ tam giác thương mại Anh-Ấn Độ-Trung Quốc. Một thành phần khác trong cốc trà của người Anh, đường, lại đến từ một tam giác thương mại khác: Anh-châu Phi-châu Mỹ. Hàng hóa của Anh được mang tới châu Phi để đổi lấy nô lệ. Những nô lệ này được mang bán cho các đồn điền mía đường ở châu Mỹ, rồi đường lại được mang trở lại Anh. Nói cách khác, nhu cầu về trà tạo ra một dòng chảy hàng hóa từ nước này sang nước khác, từ châu lục này sang châu lục khác, và trà chính là khởi nguồn cho toàn cầu hóa.

Advertisements