(Image source: http://7-themes.com/collections/coffee-wallpapers/4427477/)

Phần 4: CÀ PHÊ

Lịch sử của cà phê bắt nguồn từ Ethiopia. Vào khoảng năm 1850, một người chăn dê tên là Kaldi nhận thấy đàn dê của mình trở nên nghịch ngợm hơn sau khi ăn quả của một loại cây bụi và đem điều này kể với các thầy tu trong làng. Lấy quả cây này đun với nước, các thầy tu tạo ra một thứ đồ uống giúp họ tỉnh táo trong những giờ cầu nguyện dài. Tiếng lành đồn xa, chẳng mấy chốc những tác dụng thần kì của loại quả này đến tai người Arab, và họ chính là những người đầu tiên trồng cà phê để dùng và sau đó để bán. Cà phê trở nên phổ biến một phần là nhờ luật cấm rượu của đạo Hồi. Những người theo đạo Hồi ở các nước Arab thích uống cà phê vì nó cũng có tác dụng kích thích hơi giống uống rượu. Do đó cà phê còn được gọi là rượu vang của người Arab.

Nhưng phải đến đầu thế kỉ 17, cà phê mới du nhập vào châu Âu, chinh phục cả đức giáo hoàng. Thế độc quyền trồng, sản xuất và bán cà phê của người Arab chỉ bị phá vỡ vào đầu thế kỉ 18, khi người châu Âu ‘ăn cắp’ được một số hạt giống và công nghệ trồng cà phê rồi đem sang các thuộc địa như Java, East Indies và Brazil để canh tác. Ngày nay, cà phê là loại đồ uống phổ biến nhất thế giới, và chỉ đứng sau dầu mỏ về kim ngạch thương mại.

Cà phê khai sinh ra các sàn chứng khoán hiện đại

Các quán cà phê ra đời vào khoảng năm 1100, và nhanh chóng mọc lên khắp bán đảo Arab, trở thành điểm tụ họp quan trọng của giới học giả, văn nghệ sĩ và các thương gia, và do đó còn có tên Schools of the Wise (trường của các nhà thông thái). Vào thế kỉ 15, Mecca giống như Seattle hiện đại, với các quý ông ngồi nhấm nháp ly cà phê bên bàn cờ hay tham gia các cuộc tranh luận chính trị. Khi sang đến châu Âu vào những năm 1600s, các quán cà phê cũng trở thành trung tâm đời sống xã hội, nơi mà mọi người có thể tụ tập, nói chuyện, bàn công việc. Công ty bảo hiểm nổi tiếng nhất thế giới Lloyd’s of London cũng bắt đầu từ quán cà phê của Edward Lloyd (mở năm 1668), nơi các thủy thủ tụ tập trao đổi chuyện bảo hiểm. Quán cà phê Procope mở năm 1689 ở Paris trở thành trung tâm của phong trào khai sáng (French Enlightment), nơi những vĩ nhân nổi tiếng của Pháp như Voltaire, Rousseau, và Denis Diderot thường lui tới, và được coi là nơi sinh ra cuốn từ điển bách khoa toàn thư hiện đại đầu tiên.

Trong những năm 1600s, chính phủ Hà Lan, Anh và Pháp cấp phép cho các công ty East India, thực chất là các công ty tàu biển đi vơ vét của cải của East Indies và các nước châu Á khác. Để làm giảm nguy cơ mất tàu do thời tiết, hải lưu hay cướp biển, các chủ tàu thường tìm kiếm các nhà đầu tư, những người bỏ tiền ra cho từng chuyến đi và sẽ được hưởng một phần lợi nhuận nếu chuyến đi biển thành công. Các nhà đầu tư cũng giảm thiểu rủi ro bằng cách đầu tư vào nhiều tàu khác nhau. Đó là khởi nguồn của các công ty cổ phần và thị trường cổ phiếu. Tuy nhiên vào thời này các ‘cổ phiếu’ thường được viết trên giấy và có thể trao đổi qua tay các nhà đầu tư. Chưa có sàn chứng khoán nên các nhà đầu tư và môi giới cổ phiếu thường lui tới các quán cà phê ở khu Royal Exchange, London để giao dịch. Các cổ phiếu cần mua bán thường được viết lên cửa quán hoặc gửi đi như newsletter. Khi số công ty giao dịch đã tăng lên 150 vào những năm 1690s, chính phủ Anh ra luật giới hạn số lượng và hoạt động của các nhà đầu tư ở khu vực này. Để phản đối, các nhà đầu tư chuyển sang các quán cà phê ở các khu xung quanh, và quán được yêu thích nhất là Jonathan’s. Đến năm 1773, một nhóm các nhà đầu tư chuyển sang một tòa nhà bên cạnh, tạm gọi là New Jonathan’s, sau đổi thành The Stock Exchange, tiền thân của sàn giao dịch chứng khoán London (London Stock Exchange). Khi Mỹ trở thành thuộc địa của Anh, văn hóa cà phê cũng nhanh chóng lan truyền tới đây. Các quán cà phê cũng nhanh chóng trở thành các điểm tụ tập cho giới thương gia. Quán cà phê Tontine mở năm 1792 ở New York chính là địa điểm gốc của sàn giao dịch chứng khoán New York NYSE.

Cà phê thay đổi cách chúng ta đi quán

Dù gây nhiều tranh cãi, cà phê vẫn trở nên ngày càng phổ biến ở châu Âu. Năm 1650, quán cà phê đầu tiên ở Anh tên là The Grand Cafe được một người Do Thái tên là Jacob mở ra ở Oxford, với biệt hiệu là ‘penny universities’ vì chỉ với 1 penny bạn đã có thể có một cốc cà phê và ngồi cả buổi nghe thiên hạ bàn chuyện trên thiên văn dưới địa lý. Chỉ sau 25 năm, số lượng quán cà phê ở Anh đã tăng lên hơn 3000. Cũng từ những quán cà phê ở Anh mà khái niệm tiền boa được sinh ra. Thực khách đến với những quán cà phê đông đúc muốn chắc chắn mình được phục vụ nhanh sẽ cho thêm một đồng tiền vào chiếc cốc đề ‘To Insure Prompt Service’. Từ TIPS – tiền boa trong tiếng Anh – ra đời từ đó.

Cà phê sinh ra croissant

Từ cuối thế kỉ 16, cà phê đã được giới Hồi giáo mang sang Italy qua cảng Venice. Đến giữa thế kỉ 17, cà phê vào đến Anh và Pháp, nhưng phải đến trận chiến Vienna năm 1683 (Battle ở Vienna), cà phê mới du nhập đến Áo và Ba Lan. Quân Thổ bại trận, khi rút đi để lại nhiều bao cà phê trong quân trại. Franciszek Jerzy Kulczycki dùng số cà phê này để mở quán cà phê đầu tiên ở Vienna, ông còn cho thêm sữa và mật ong vào cho cà phê đỡ đắng, tạo ra cốc capuccinno đầu tiên trên thế giới. Cũng có người nói rằng Capuccino được đặt tên dựa trên dòng tu Capuchin do màu cà phê Capuccino giống màu áo các thầy tu dòng Capuchin đã tham gia trận chiến Vienna.

Cũng nhờ trận chiến với quân Thổ mà bánh croissant được ra đời. Sau vài tháng bao vây thành Vienna, quân Thổ quyết định đào một đường hào dưới chân thành. Nhưng không may, một số thợ bánh đang làm việc buổi đêm đã nghe thấy tiếng động do quân Thổ gây ra và báo với tướng lĩnh quân đội Áo, nhờ đó quân Áo đã đánh bại được quân Thổ và giữ được thành phố. Những người thợ làm bánh anh hùng được đặc quyền làm một loại bánh riêng để chào mừng chiến thắng này. Họ đã tạo hình chiếc bánh như hình trăng lưỡi liềm, biểu tượng của Hồi giáo, với ý nghĩa quân dân Áo đã ăn ngon quân Thổ. Loại bánh mới này được đặt tên là Kipfel, theo tiếng Đức nghĩa là hình mặt trăng. Khi công chúa Áo Marie Antoinette cưới đức vua Louis XVI của Pháp, những người thợ làm bánh của Pháp đã làm lại loại bánh này cho vị tân hoàng hậu, và gọi nó là crossant, nghĩa là hình mặt trăng trong tiếng Pháp. Loại bánh mới trở nên rất phổ biến không chỉ ở Vienna và Paris mà còn trên toàn thế giới.

Cà phê giải thích quỹ đạo của các hành tinh

Một buổi tối tháng 1 năm 1684, trong một buổi gặp mặt ở quán cà phê, 3 nhà khoa học Hooke, Halley và Wren nói chuyện về thuyết trọng lực, một chủ đề còn gây nhiều tranh cãi vào lúc đó. Trong lúc nhấm nháp cà phê, Halley đặt ra câu hỏi liệu quỹ đạo hình elip của các hành tinh có phải do trọng lực tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách. Hooke tuyên bố đó chính là câu trả lời và ông đã chứng minh được điều này bằng công thức toán học. Nhưng Wren cũng đã thử chứng minh điều này mà ko được. Wren quyết định thách đố 2 người bạn trong thời hạn 2 tháng phải đưa cho ông bằng chứng thuyết phục, phần thưởng sẽ là 40 shillings. Tuy nhiên cả Hooke và Halley đều không lấy được phần thưởng.

Vài tháng sau, Halley đến Cambridge thăm một đồng nghiệp, nhà khoa học Isaac Newton. Halley mang câu hỏi đã hỏi Hooke và Wren ở quán cà phê đưa ra hỏi Newton, và cũng như Hooke, Newton nói ông đã chứng minh được điều đó mặc dù không đưa ra được ngay bằng chứng. Sau khi Halley về, Newton dành toàn bộ thời gian tập trung vào nghiên cứu này, và đến tháng 11 Newton gửi cho Halley một bài báo chứng minh rằng thuyết trọng lực giải thích được quỹ đạo hình elip của các hành tinh. Câu hỏi của Halley cũng đã thúc đẩy Newton tổng hợp các kết quả nghiên cứu nhiều năm của mình và năm 1687 cho ra đời một trong những cuốn sách vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học của nhân loại Philosophiae naturalis principia mathematica (Mathematical principles of natural philosophy), thường được gọi là Principia. Trong cuốn sách này, Newton đưa ra định luật vạn vật hấp dẫn và 3 định luật Newton, tạo nên nền tảng của nền cơ học cổ điển. Ông chứng minh rằng các định luật của mình có thể giải thích được chuyển động của các vật thể trên trái đất cũng như trong vũ trụ, từ quả táo rơi đến quỹ đạo các hành tinh. Với cuốn Principia, Newton đã đặt nền móng cho vật lý hiện đại thay thế cho lý thuyết cũ của người Hi Lạp, và công trình này đã đưa Newton trở thành một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Cà phê hay Viagra

Có lẽ không có loại thức uống nào lại gây nhiều tranh cãi về vai trò của nó với sex như cà phê

Trong những năm 1500s, ở Venice và Thổ Nhĩ Kỳ, nhiều người tin rằng cà phê có thể biến đàn ông thành dân đồng tính. Năm 1571, đại sứ Venice ở TNK khi viết thư về nhà cũng nói rằng cà phê biến đàn ông thành dân đồng tính. Ông ta thấy đàn ông Thổ đi vào các nhà tắm công cộng (nơi có phục vụ cà phê), và các quán cà phê mà không hề có phụ nữ. Binh lính cũng bị coi là đồng tính vì thói quen uống cà phê của họ. Người ta còn tin là nếu ăn hoặc uống một loại đồ nhất định thì có thể chuyển đổi giới tính, cơ thể, kể cả cơ quan sinh dục. Theo logic đó, cà phê có thể biến đàn ông thành đồng tính, thậm chí thành phụ nữ nếu họ uống cà phê đủ nhiều và đủ lâu.

Đến những năm 1600s ở London, cà phê lại bị đổ lỗi làm mất hứng của các quý ông với sex. Các bà vợ trẻ thậm chí đã cho in một bức ‘truyền đơn’ có tên ‘The Maiden’s Complaint Against the Coffee House’ phàn nàn về việc các quán cà phê khiến các ông chồng về nhà muộn và ko muốn sex. Thực ra thời đó các quán cà phê chỉ dành cho nam giới, và không chóng thì muộn các nhà thổ đã chuyển đến phía trên các quán này từ giữa những năm 1600s. Và vì thế các quý ông đến đây không chỉ để thưởng thức thứ đồ uống nóng hổi, tranh luận các vấn đề chính trị nóng ran mà còn tự thưởng cho mình những phút giây vui vẻ bên các em gái điếm nóng bỏng. Thế nên khi về nhà họ chẳng còn hứng thú sex với vợ, và tất cả lỗi lầm bị đổ tại cà phê. Các quý bà thành những người chống lại cà phê, còn các quý ông thì ủng hộ cà phê nhiệt liệt. Đến năm 1664, một bức truyền đơn khác có tên ‘Women’s Petition against Coffee’ lại được xuất bản ở London, nhưng các quý bà vẫn thất bại.

Đến những năm 1700s cà phê còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ li dị. Lúc này các ‘chuyên gia’ nhà thổ đã biết dùng cà phê để tăng hưng phấn khi quan hệ. Các bà vợ cho cà phê ra rìa, nhưng các ông chồng ra sức chống lại. Cuối cùng khi các bà vợ tự mình thử món cà phê, họ thay đổi 180 độ. Họ dùng chính cà phê làm luận điểm để được li dị. Nếu một người đàn ông không thể cung cấp đủ cà phê cho bà vợ, ông ta sẽ bị đá đít, bà vợ sẽ được giữ ấm pha cà phê.

Cũng thật bất ngờ khi chính các tú bà nhà thổ là những người góp công không nhỏ vào việc phát triển máy pha cà phê. Tin rằng cà phê giúp ích nhiều cho nghề nghiệp của mình, họ đã bỏ ra không ít công sức để sáng chế ra các công cụ pha cà phê. Ở Pháp, Đức, Italy, TBN và Thụy Sĩ, họ thậm chí có nhiều bằng sáng chế liên quan đến cà phê hơn cả số đàn ông trên cả nước.

Trở về thời hiện tại, theo thống kê có đến 90% các cuộc hẹn hò lần đầu diễn ra ở một quán cà phê. Năm 2001 công ty chế tạo máy pha cà phê Capresso làm một cuộc thăm dò để xem cà phê quan trọng thế nào trong cuộc sống. Câu hỏi đặt ra cho những người tham gia là nếu phải từ bỏ một trong những thứ sau đây trong vòng một tháng, họ sẽ chọn thứ gì – cà phê, sex, excuse, internet hay chocolate? Cả nam và nứ đều xếp cà phê đứng thứ 2 chỉ sau sex, thế mới biết cà phê và sex liên quan mật thiết thế nào.

Advertisements