Phần 3: RƯỢU MẠNH

Whisky và brandy đưa châu Âu thoát khỏi thời Trung cổ

Vào cuối thiên niên kỉ thứ nhất, thành phố lớn và văn minh nhất châu Âu không phải là Rome, London hay Paris mà là Cordoba, thủ phủ của vùng Andalusia phía nam Tây Ban Nha. Trong khi châu Âu đang trong thời trung cổ tăm tối sau sự sụp đổ của đế chế La Mã, Cordoba cùng với Damascus và Baghdad trở thành những trung tâm văn hóa khoa học của thế giới Arab, nơi các học giả Arab gìn giữ và phát triển những kiến thức của người Hi Lạp, Ấn Độ và Ba Tư, tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong toán học, thiên văn học, y học và triết học.

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của các học giả Arab là việc hoàn thiện và phổ biến quá trình chưng cất, hay tách các chất lỏng khác nhau bằng cách đun nóng và ngưng tụ. Và thứ mà họ đưa vào chưng cất đầu tiên chính là những thứ đồ uống rất được yêu thích thời đó – rượu vang và bia. Vì cồn sôi ở nhiệt độ thấp hơn nước  nên sẽ bay hơi trước, hơi cồn ngưng tụ sẽ tạo nên rượu mạnh. Khi mới ra đời, rượu mạnh được dùng chủ yếu trong phòng thí nghiệm và để làm thuốc chữa bệnh nhưng đến thế kỉ 15, ngành in ra đời, kiến thức chưng cất rượu mạnh nhanh chóng được lan ra khắp châu Âu. Ở lãnh thổ Arab và các nước Nam Âu, rượu vang khá sẵn và được chưng cất tạo nên brandy, còn ở các nước Bắc Âu, thời tiết không phù hợp để trồng nho và sản xuất rượu vang nên bia được dùng thay thế, tạo nên whisky. Không chỉ có kĩ thuật chưng cất rượu mạnh, nhiều kiến thức khác của người Arab cũng được lan khắp châu Âu, mở ra nhiều ý tưởng cho châu lục già đang ngủ quên trong bóng đêm trung cổ. Châu Âu bước vào thời Phục Hưng với sự phát triển rực rỡ của khoa học và nghệ thuật.

Whisk, brandy và rum khai hoang tân thế giới

Sự ra đời của brandy và whisky trùng với thời kỳ châu Âu đang mở rộng các tuyến đường biển để phá vỡ thế độc quyền của giới Arab trong việc buôn bán hương liệu và gia vị. Cuộc thánh chiến với người Arab cũng mang lại cho người châu Âu một sản phẩm khác của Arab: đường mía. Tuy nhiên do không có kinh nghiệm, người châu Âu không biết sử dụng các thiết bị tưới tiêu ngầm và cối xay nước, khiến cho việc trồng mía đường rất vất vả, và họ phải dùng nô lệ để làm việc trong các đồn điền. Ban đầu, những nô lệ này bị bắt cóc từ châu Phi, nhưng về sau, người châu Âu phải mua lại từ các nhà buôn nô lệ châu Phi. Khi Columbus phát hiện ra tân thế giới năm 1492, ông ngay lập tức nhận ra rằng các hòn đảo vùng Caribbean không có vàng, gia vị hay tơ lụa nhưng lại là vùng đất lí tưởng để trồng mía đường. Trong vòng bốn thế kỉ sau đó, các đồn điền mía của Anh, Pháp và Hà Lan mọc lên như nấm, ít nhất 11 triệu nô lệ châu Phi được mang đến châu Mỹ, chưa kể một con số tương đương đã chết trên đường đi. Cái giá phải trả cho nô lệ chính là rượu mạnh. Các nhà buôn nô lệ châu Phi yêu thích rượu mạnh, đặc biệt là brandy, hơn tất cả các hàng hóa dùng để trao đổi khác, kể cả vải vóc. Rượu mạnh không tốn nhiều chỗ trên những chuyến tàu biển chật chội, khó hỏng hơn rượu vang, và tất nhiên phê hơn. Những người chèo canoe vận chuyển hàng lên xuống thuyền và lính gác nô lệ cũng được trả công bằng rượu mạnh.

Công nghệ làm brandy và whisky còn được các chủ đồn điền mía đường dùng để chưng cất rỉ đường, tạo nên một loại rượu mạnh mới có tên là brandy mía, Kill-Devil hay Rumbullion, còn gọi tắt là Rum. Loại rượu rẻ tiền này nhanh chóng được dùng cho nô lệ, giúp họ có thể quên đi công việc nặng nhọc, là phần thưởng cho những việc chân tay bẩn thỉu, là hàng hóa giúp nô lệ đổi lấy thức ăn, thậm chí là thuôc chữa bệnh cho nô lệ châu Phi. Rượu rum cũng trở thành đồ uống yêu thích của các thủy thủ, và đô đốc Edward Vernon là người đã nghĩ ra cách cho thêm đường và chanh vào thứ rượu rum rẻ tiền để dễ uống hơn. Đây chính là tiền thân của cocktail hiện đại.

Rượu rum không chỉ duy trì các đồn điền mía mà còn biến nước Anh thành một cường quốc trên biển. Một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho các thủy thủ là bệnh scurvy do thiếu vitamin C. Chính việc đổi từ bia sang rum và thói quen trộn rum với chanh và đường đã giúp cho các thủy thủ Anh tránh được bệnh này, tăng sức chiến đấu của hải quân Anh lên gấp đôi. Trong khi các thủy thủ Pháp chuyển từ rượu vang, thứ đồ uống có một lượng vitamin C nhỏ, sang brandy không có vitamin C khiến cho họ bị mắc scurvy nhiều hơn, góp một phần vào thất bại của liên quân Pháp-Tây Ban Nha trước hải quân Anh trong trận Trafalgar năm 1805.

Whisky xây đường xá

Đường xá hiện đại như chúng ta biết sẽ không tồn tại nếu không có…whisky. Quay ngược thời gian về năm 1536, khi vua Henry VIII của Anh muốn li dị hoàng hậu Catherine của xứ Aragon nhưng không được sự chấp nhận của Vatican đã quyết định tách khỏi nhà thờ công giáo Rome và tạo ra nhánh công giáo Anh. Các nhà thờ công giáo bị đóng cửa hoặc phá hủy, các thầy tu công giáo trên toàn Anh, Ireland, Wales không còn chỗ trú chân, không một xu trong túi, đã chạy lên Scotland và mang theo mình kĩ năng sống duy nhất họ có được – làm rượu whisky. Cũng vào thời gian này, rượu whisky chuyển từ thứ thức uống có tác dụng y học sang thứ thức uống giải trí. Sau nhiều thập kỉ, dân địa phương Scotland đã học được kĩ thuật làm rượu whisky từ các thầy tu và nâng chất lượng rượu lên một mức cao hơn bằng cách rang hạt lúa mạch, mang lại cho whisky vị khói đặc trưng. Thứ chất lỏng kì diệu này do đó còn có tên Scotch. Chả mấy chốc mà whisky Scotland đã trở nên nổi tiếng và được ưa chuộng khắp châu Âu.

Năm 1707, Scotland sát nhập với Anh và Wales tạo nên Great Britain. Các nghị sĩ quyết định đánh thuế các cơ sở chưng cất rượu whisky, đẩy người Scotland vào nghề chưng cất rượu lậu. Họ thường làm vào ban đêm để tránh bị phát hiện, đây cũng là nguồn gốc của từ moonshiner (người làm rượu lậu) trong tiếng Anh. Chính quyền càng mạnh tay trong việc thu thuế, dân làm rượu lậu càng nghĩ ra nhiều mánh khóe, thậm chí còn dùng các biện pháp vũ lực để chống cự. Năm 1715, chính phủ quyết định tấn công Scotland để dẹp bỏ một cuộc nổi dậy của dân làm rượu lậu. Nhưng Scotland thời kì này không hề có đường xá, chỉ có các con đường đất nhỏ cho gia súc, nhầy nhụa mỗi khi trời mưa. Vậy là dân Anh quyết định xây đường, những con đường lớn hơn, bền hơn, tốt hơn. Đến năm 1801, người Anh đã xây được hơn 1000 km đường mới bằng kĩ thuật hiện đại, dung các lớp đá lớn ở dưới, và nhỏ dần cho các lớp trên, sau đó thêm nước và nén chặt, giống như cách chúng ta làm đường hiện nay. Nhưng đường tốt không chỉ dành cho quân lính di chuyển ban ngày, chúng còn hữu dụng hơn rất nhiều cho cánh buôn lậu ban đêm vì giờ đây việc vận chuyển trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Whisky cứu cá voi khỏi tuyệt chủng

Cá voi là loài động vật có vú lớn nhất trên thế giới, nhưng chúng đã suýt bị tuyệt chủng nếu không nhờ whisky, chính xác hơn là nhờ những thùng gỗ đựng rượu whisky. Gỗ sồi trắng thường được dùng do nó có một hóa chất kết dính đặc biệt giúp thùng không bị rò nước. Thùng gỗ đóng xong thường được đem đốt qua, tạo nên một lớp than đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên mùi vị và màu rượu trong quá trình ủ.

Vào thế kỉ 19, những thùng rượu whisky không chỉ dùng để đựng rượu mà còn dùng để chứa một thứ quý hơn nhiều, mỡ cá voi. Thời đó chúng ta chưa biết đến dầu thô, và người ta phải dùng mỡ cá voi để thắp sáng, nhờn nhẫy, bẩn thỉu và hôi hám. Loài cá voi gần như bị tuyệt chủng do bị săn bắt để lấy mỡ. May mắn thay, Samuel Kier, một chủ mỏ muối đang rất tức giận vì thứ nước đen đen thường làm bẩn các mỏ muối quý giá dưới lòng đất thời bấy giờ. Samuel cũng tình cờ là một người thích tìm tòi và có một cơ sở chưng cất whisky cũ. Một ngày vào cuối thập kỉ 1840s, ông quyết định đem chưng cất cái thứ nước đen sóng sánh đấy và phát hiện ra ông không chỉ có thể tách nó khỏi các tinh thể muối, mà còn thu được một thứ nhiên liệu thắp sáng tốt hơn mỡ cá voi vì nó không có mùi hôi thối và dễ sản xuất hơn. Nghề tinh chế dầu thô đã ra đời như thế, cá voi không còn bị săn bắt để lấy mỡ và tránh được sự tuyệt chủng, còn những chiếc thùng gỗ đựng rượu whisky cũng được đem ra đựng dầu. Đơn vị ‘thùng dầu’ chúng ta vẫn đang dùng có nguồn gốc từ đó.

Whisky, brandy và rum khởi nguồn cho ngành quảng cáo

Ngày nay mỗi năm chúng ta phải xem hàng trăm giờ quảng cáo giữa các chương trình. Và vị anh hùng không tên khai sinh ra ngành quảng cáo chính là rượu mạnh. Trở lại những năm cuối của thập kỉ 1800s, lúc đó chưa có các cơ quan quản lý thị trường, và các lái thương có thể tự động ‘bốc phét’ bất cứ thứ gì cho sản phẩm của mình, từ việc nó có tác dụng chữa hói, làm đẹp da đến chữa bệnh gan, hay bệnh gout. Và những sản phẩm thông dụng nhất đều có chung một thành phần –rượu mạnh. Dù chẳng khỏi bệnh thì các con bệnh cũng vẫn cảm thấy sung sướng vì cảm giác biêng biêng khi say. Nhưng nếu tất cả các loại thuốc đều như nhau, làm thế nào để tạo nên sự khác biệt và bán được sản phẩm? Các show đi bán thuốc dạo ra đời, đại loại cũng giống như các gánh xiếc dạo với vô số các trò trình diễn hay ho. Các show diễn đều miễn phí, nhưng thỉnh thoảng lại bị chủ show ngắt quãng để dành thời gian tán dương thứ thuốc diệu kỳ của mình. Các show bán thuốc kiểu này vẫn còn tồn tại đến tận những năm 1950s. Không biết có phải tình cờ mà TV cũng bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1940s-1950s, với những chương trình lớn đầu tiên cũng bị chen ngang bởi những đoạn quảng cáo sản phẩm, tương tự như ở các show bán thuốc dạo.

Advertisements