(Image source: https://s-media-cache-ak0.pinimg.com/originals/68/b8/2b/68b82bff61a2d58e527aa997484dcd56.jpg)

Phần 2: RƯỢU VANG

Rượu vang tạo nên cái nôi của tư duy Tây Âu

Nguồn gốc của tư duy Tây Âu hiện đại bắt nguồn từ thời kì vàng son của nền văn minh Hi Lạp cổ đại khoảng 600-500 năm trước công nguyên. Người Hi Lạp đặt nền móng cho khoa học, chính trị, triết học, thương mại, và luật pháp hiện đại bằng phương pháp thảo luận. Với họ, cách tốt nhất để thử một ý tưởng là đối chứng nó với các ý tưởng khác, nói cách khác là bằng các cuộc đấu trí. Và nơi tốt nhất để làm việc đó là các buộc tiệc có tên symposion (số nhiều symposia), nghĩa là uống cùng nhau . Những buổi tiệc này chỉ dành cho một nhóm nhỏ các quý ông thuộc tầng lớp quý tộc và trí thức, được tổ chức ở một căn phòng đặc biệt trong nhà chỉ dùng riêng cho các buổi symposion. Các quý ông ngồi trên những bộ trường kỉ đặc biệt, tựa vào đệm, được phục vụ đồ ăn và sau đó là rượu vang. Sau nghi lễ tế 3 li rượu cho thần linh, những anh hùng đã hi sinh, và thần Zeus, buổi tiệc rượu và các cuộc tranh luận bắt đầu.

Nhà triết học lừng danh Plato cũng dùng symposion như một phương pháp dạy học. Sau mỗi buổi dạy, ông và các học sinh cùng ăn uống và thảo luận. Rượu được uống ở mức vừa phải, và không có các tiết mục đàn hát mua vui như các buổi symposion khác. Các học sinh thay nhau phát biểu và lắng nghe một cách có trật tự. Ngày nay, những buổi hội nghị chuyên đề (symposium) của giới học thuật cũng có format tương tự. Plato cũng là người đưa ra lý luận trẻ dưới 18 tuổi không nên uống rượu, đàn ông dưới 31 tuổi chỉ nên uống vừa phải, còn ngoài 40 thì uống thoải mái để chữa bệnh hay càu nhàu của tuổi già. 🙂

Nói về sự tiết chế trong các buổi symposion, Euboulos có viết trong một vở kịch của mình ‘Cho những quý ông có ý thức, tôi chuẩn bị 3 vò rượu: vò thứ nhất cho sức khỏe, vò thứ hai cho tình yêu và vui thú, vò thứ 3 cho giấc ngủ. Sau khi hết vò thứ 3, những quý ông thông minh sẽ về nhà. Vò thứ 4 không còn là của tôi nữa, nó thuộc về các hành vi xấu, vò thứ 5 dành cho la hét, vò thứ 6 cho sự thô lỗ và những lời xúc phạm, vò thứ 7 cho đánh đấm, vò thứ 8 cho đổ vỡ, vò thứ 9 cho sự suy nhược, vò thứ 10 cho sự điên dại và mất ý thức.’ Rất đáng để suy nghĩ.

Rượu vang góp phần vào sự sụp đổ của Rome

Thời La Mã, rượu vang thường đường pha thêm xi rô nho để tăng màu, độ ngọt và khả năng bảo quản. Chất xi rô này còn có tên là sapa hay defratum. Theo truyền thống khi đó, sapa được nấu trong nồi hoặc ấm bằng chì, rồi được cho thêm vào rượu. Chỉ một thìa sapa cũng đủ để gây ra nhiễm độc chì mãn tính. Trong khi đó, lượng tiêu thụ rượu vang trung bình ở Rome là 1-5 lít/người/ngày. Tính cả lượng chì có trong các đường ống nước và việc sử dụng sapa trong nhiều món ăn thay cho đường, kết quả là người La Mã tiêu thụ ít nhất 250 µg chì một ngày, gấp hơn 4 lần mức tối đa 45 µg/ngày mà tổ chức y tế thế giới WHO hiện đang khuyến cáo .

Hoàng đế Claudius là người bị nghi nhiễm độc chì nhiều nhất. Ông là người nghiện rượu, đi khập khiễng, có vấn đề về ngôn ngữ, thường chảy mũi dãi, hay có những tràng cười bột phát và bị đau dạ dày. Việc ăn uống vô độ cũng khiến Tiberius, Caligula, Galba, Nero, Nerva và gần như tất cả các hoàng đế La Mã sau đều bị các triệu chứng gout. Hoàng đế Elagabalus nổi tiếng về khả năng uống rượu, ông cũng thích những bữa yến tiệc xa xỉ với đủ các của ngon vật lạ, dẫn đến bị thần kinh do ngộ độc chì. Hoàng đế Nero có lẽ cũng bị thần kinh vì đã cho xây dựng các công trình công cộng trên vùng Falernian và Caecuban, hai vùng đất làm rượu vang ngon nhất thời bấy giờ.

Rõ ràng là ngộ độc chì mãn tính, suy giảm chức năng thần kinh, và bệnh gout khá phổ biến ở Đế chế La Mã, không chỉ ảnh hưởng đến các hoàng đế mà còn cả giai cấp thượng lưu giàu có và các tướng lĩnh quân đội quyền uy. Dù không có bằng chứng trực tiếp cho mối liên hệ nhân quả giữa ngộ độc chì và khả năng đưa ra quyết định ảnh hưởng đến số phận đế chế, ngộ độc chì mãn tính vẫn được coi là một trong những nhân tố dẫn đến sự suy tàn rồi sụp đổ của đế chế La Mã.

Rượu vang tạo ra kính hiển vi và kính viễn vọng

Khi người châu Âu ngày càng yêu thích rượu vang, họ cũng tìm cách hoàn thiện nó đến mức cao nhất, rượu vang trở thành biểu tượng của sự giàu sang và quyền lực. Người La Mã bị ám ảnh bởi màu rượu sóng sánh, vị ngọt và mùi thơm của vang đến độ họ bắt đầu nghiên cứu cách làm thế nào để dự trữ và đựng rượu tốt hơn. Thủy tinh được phát minh ra, và người La Mã là những người đầu tiên cho rượu vang vào chai thủy tinh. Thủy tinh ra đời dẫn đến một loạt các phát minh khác như kính mắt giúp cho các nhà khoa học và trí thức có thể đọc và nghiên cứu thêm 15-20 năm so với trước kia, kính hiển vi giúp tìm ra các vi sinh vật, và kính viễn vọng giúp mở rộng hiểu biết của loài người về vũ trụ. Do thủy tinh không phản ứng với các chất khác, bình thủy tinh được dùng để đựng hóa chất và làm các phản ứng hóa học, đưa ngành hóa học và y học lên một tầm cao mới. Rất nhiều sản phẩm hiện đại như màn hình plasma, bóng đèn, cửa sổ, cửa xe ô tô, đồng hồ, lồng kính… cũng làm từ thủy tinh hoặc sợi thủy tinh. Tất cả là nhờ tình yêu của người châu Âu với rượu vang.

Rượu vang truyền bá cocaine

Cocaine là một loại tinh thể alkaloid có trong lá cây coca. Người bản địa Nam Mỹ đã nhai lá coca hàng nghìn năm, còn người phương Tây mới chỉ biết đến tính chất kích thích của lá coca khi người Tây Ban Nha chinh phục Nam Mỹ vào thế kỉ 16. Nhưng phải đến năm 1855, một nhà hóa học Đức có tên Friedrich Gaedcke mới tách được chất alkaloid trong lá coca lần đầu tiên. Albert Niemann, một nghiên cứu sinh tiến sĩ tại đại học Gottingen ở Đức là người cải tiến quá trình tách lọc cocaine.

Với những bước tiến này, cocaine nhanh chóng được đưa vào y học như một phương thức gây tê và gây mê. Năm 1863, một người bán dược phẩm Italy tên là Angelo Mariani tung ra sản phẩm Vin Mariani hay còn gọi là cocawine, rượu vang có chứa cocaine (khoảng 6 mg cocaine/ounce rượu). Chất cồn ethanol trong rượu có khả năng hòa tan và tách cocaine ra khỏi lá coca, đem lại cảm giác phê cho người uống rượu. Khi được xuất sang Mỹ, hàm lượng cocaine trong loại rượu này được tăng lên 7.2 mg/ounce để cạnh tranh với các sản phẩm khác. Cocaine lần đầu tiên được marketing rộng rãi đến công chúng chính là nhờ rượu vang. Sau này, thậm chí công thức ban đầu của Coca-Cola do John Styth Pemberton sáng tạo ra năm 1886 cũng có chứa lá coca và cocaine. Phải sang đến thế kỉ 20, bản chất gây nghiện của cocaine mới được biết đến, và phải đến năm 1970 cocaine mới chính thức bị cấm sử dụng ở Mỹ.

Advertisements