Provence không chỉ có những vùng nông thôn trù phú, cảnh sắc tươi đẹp, nắng ấm và đồ ăn ngon. Có một Provence khác giàu tính lịch sử và những di tích có giá trị – Provence La Mã. Tớ hoàn toàn ko biết gì về điều này (thật xấu hổ), cho đến khi bạn NA cho tớ cái itinerary để đi chơi. Đi xong vẫn cứ thắc mắc là tại sao. Thế là ngồi research.

Sau chiến thắng trong trận Actium năm 31 trước công nguyên, Tam đầu chế thứ 2 tan rã, Octavian trở thành lãnh đạo duy nhất của La Mã, lấy hiệu là Augustus. Trong những năm sau đó, Augustus đã khôn khéo cải tổ và biến Cộng hoà La Mã với quyền lực tối cao trong tay Viện nguyên lão thành Đế quốc La Mã với quyền lực tối cao nằm trong tay Hoàng đế. Dưới thời Augustus, chính sách của Đế quốc La Mã có nhiều thay đổi, hướng đến việc mở rộng các khu định cư ra ngoài lãnh thổ Italy, những nơi trước đây chỉ được coi là nguồn cung cấp tài nguyên, tiền bạc…cho Rome. Việc di dời những người không có đất đai, quân nhân giải ngũ, và một phần dân số ngày càng tăng ở Rome đến những vùng đất mới còn nhằm mục đích làm giảm tình trạng bạo động ở Rome, đồng thời bảo vệ biên giới của Đế quốc đang ngày càng lớn mạnh.

Augustus đã ban Arles cho quân đoàn 6 của Caesar để thưởng cho chiến thắng của họ trước Pompey ở Marseille. Orange được ban cho quân đoàn 2 nhờ những chiến tích của họ trong cuộc chiến Gallic. Nimes được ban cho những quân đoàn đã đánh bại Antony và Cleopatra trong trận Actium. Để giúp cho các quân nhân cảm thấy như vẫn đang ở quê nhà, Augustus đã cho xây dựng những bản sao thu nhỏ của Rome ở mỗi thành phố: đấu trường, nhà hát ngoài trời, đền thờ, khải hoàn môn…kích thước và quy mô của mỗi công trình tỉ lệ với dân số của mỗi thành phố. Phù, cuối cùng thì tớ cũng hiểu được tại sao lại có những di tích La Mã ở Provence.

(Ảnh Thanhdad chụp –> trông rất âm u –> không khí, cổ kính)
(Ảnh tớ chụp –> tươi sáng, loè loẹt, nửa cổ nửa kim)
(Panorama toàn cảnh trong đấu trường. Tớ cố tình để thế này, đừng hỏi tại sao)
(Bay lên nào là em bay lên nào –> nhưng nặng quá nên chỉ lên được có vài chục cm rồi rớt, may chưa thủng khán đài
Ảnh Thanhdad)
(Ảnh Thanhdad)
(Lần sau ở đây nên có biển ‘Cấm ngồi vào hiện vật’ để đề phòng những đứa như tớ
Ảnh Thanhdad)
(Đường đi phía dưới khán đài)
(Trang phục của võ sĩ giác đấu)

Đấu trường ở Nimes, bản sao thu nhỏ của Colosseum ở Rome, là đấu trường La Mã còn nguyên vẹn nhất trên thế giới. Được xây dựng từ thế kỉ thứ nhất sau công nguyên, đấu trường này có hình oval, dài 133 m, rộng 101 m, và cao 21 m, có thể chứa được 21,000 người. Mặt ngoài đấu trường có 2 tầng, mỗi tầng có 60 vòm cung. Ngồi trên tường bao của đấu trường không sợ gió thổi bay mất người (vì tớ không được ‘mình hạc xương mai’ như em Còi), chỉ sợ mấy người làm ở đây mà nhìn thấy thì lôi cổ xuống phạt cho chết. Chỗ này bị cấm trèo lên

(Ảnh Thanhdad)
(Phía này trông rõ ràng mới hơn mặt trước –> Đồ giả chăng?)

Đấu trường La Mã ở Arles cũng có kiến trúc tương tự ở Nimes, với 60 vòm cung mỗi tầng, nhưng lớn hơn một chút, dài 136 m, rộng 107 m. Một số phần của đấu trường ở Arles hình như được xây lại, trông rất mới.

(Cái ảnh này ghép hỏng mấy chỗ nhưng lười ko muốn làm lại. Đừng ai nhìn kĩ nhá)
(Tượng Hoàng đế Augustus. Đúng lúc có em chim bồ câu đổi vị trí từ đầu xuống tay nhá.)

Nhà hát ở Orange, xây đầu thế kỉ thứ nhất sau công nguyên, là công trình nhà hát ngoài trời thời La Mã còn nguyên vẹn nhất ở châu Âu. Đây cũng là nhà hát La Mã duy nhất còn giữ được bức tượng nguyên bản của hoàng đế Augustus. Không giống như nhà hát ở Arles đã bị phá huỷ nhiều, nhà hát ở Orange vẫn giữ được hầu hết những kiến trúc từ thời La Mã: khu vực khán đài xây dựa vào sườn đồi Saint-Eutrope có sức chứa 10,000 người, vòng bán nguyệt trước sân khấu, sân khấu với bức tường khổng lồ sau lưng rộng 103 m, cao 37 m. Trước đây bức tường này được trang trí với những phiến đá hoa cương, cột, trụ ngạch, tượng…được chạm khắc tinh xảo. Những chi tiết trang trí này không đơn giản chỉ để cho đẹp. Những tượng, hốc lồi lõm trên tường góp phần làm loại bỏ tình trạng dội âm trên sân khấu. Vua Louis XIV đã từng ca ngợi đây là bức tường đẹp nhất trong cả nước Pháp. Nhà hát này hoành tráng thế, quả đồi Saint-Eutrope phía sau nhà hát cũng hoành tráng không kém với mật độ dog shit có lẽ thuộc loại cao nhất thế giới

(Bị cắt chân mà vẫn tít mắt
Ảnh Thanhdad)

Pont du Gard là một phần của hệ thống cống cấp nước hoàn hảo thời La Mã. Trải dài hàng trăm dặm, hệ thống này chỉ dựa vào trọng lực và độ nghiêng cực nhỏ (mỗi m dốc xuống chỉ 1mm) để đưa nước từ các suối trên núi về các khu đô thị. Pont du Gard có 3 tầng, cao 49 m, phần dài nhất dài 275 m. Tầng dưới cùng cao 22 m, rộng 6 m, dài 142 m, gồm 6 vòm cung. Tầng giữa dài 242 m, rộng 4 m, cao 20 m, gồm 11 vòm cung. Tầng trên cùng có 35 vòm cung, dài 275 m, cao 7 m, rộng 3 m. Tầng đầu tiên được dùng như một cây cầu bắc qua sông Gardon, tầng trên cùng đặt ống dẫn nước. Hôm bọn tớ đi Pont du Gard, trời âm u trắng nhợt nên ảnh cực xấu. Chứ ai mà xem mấy cái ảnh chụp ở đây lúc nắng đẹp thì lung linh phải biết.

(Nhà thờ Notre Dame des Doms và lâu đài của Giáo hoàng)
(Coat-of-arms của Giáo hoàng Paul V. Thấy bồ câu đậu như ruồi ko?)
(Sông Rhone và phố cổ Avignon nhìn từ trong lâu đài của Giáo hoàng)

Cung điện của giáo hoàng ở Avignon là cung điện theo kiến trúc Gothic lớn nhất ở châu Âu với diện tích 15,000 mét vuông. Bắt đầu từ triều đại Clement V (1305-1314), trong vòng hơn 70 năm sau đó, các giáo hoàng đến cư ngụ ở Avignon để tránh áp lực chính trị của Italy và của các hoàng tộc Rome. Vua Philip của Pháp hứa bảo vệ và không phá rối để đổi lấy ảnh hưởng trong chính sách của các giáo hoàng. Ngay cạnh cung điện là nhà thờ Notre Dame des Doms với bức tượng Đức Mẹ mạ vàng trên đỉnh.

Cầu St Bénezet gần cung điện giáo hoàng ở Avignon, xây vào cuối thế kỉ 12, bắc qua sông Rhone. Cây cầu có 22 nhịp, dài hơn 900 mét, rộng 4 mét, nằm trên một trong những tuyến đường hành hương lớn nhất giữa Italy và Tây Ban Nha. Khi các giáo hoàng chuyển về Avignon trong thế kỉ 14, cây cầu này là cầu nối quan trọng giữa khu Villeneuve của các hồng y bên kia sông Rhone và cung điện giáo hoàng trong thành Avignon. Trên cầu có một nhà thờ nhỏ. Mỗi khi qua cầu, giáo hoàng sẽ dừng lại ở đây để cầu nguyện và hiến một đồng florin. Năm 1603, sau một trận lũ lớn trên sông Rhone, một nhịp cầu bị sập, 3 nhịp khác sập 2 năm sau đó. Vì thành phố không có đủ tiền, cộng thêm bệnh dịch, công việc bảo trì và sửa chữa cây cầu liên tục bị ngắt quãng và bỏ rơi. 2 nhịp cầu mới dựng lên cũng bị nước lũ sông Rhone cuốn trôi. Hiện giờ chỉ còn lại 4 nhịp cầu phía Avignon, tháp Philippe le Bel bên phía Villeneuve, và bài hát nổi tiếng ‘Sur le pont d’Avignon’.

Advertisements